Bạch Tuyết Ca – Chương 120: Có tiền là có thể làm phản

Bạch Tuyết Ca · Chương 120/132

Tên: Châu Đàn

Năm sinh/mất: xxx-xxxx

Tự: Tiêu Bạch

Hiệu: Bạch Tuyết.

Quê quán: Lâm An (nay là Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang).

Ông là nhà chính trị, nhà cải cách, nhà văn học trứ danh thời Bắc Dận của Trung Quốc.

THỜI NIÊN THIẾU SÓNG GIÓ

Châu Đàn sinh ra tại Lâm An vào niên hiệu An Duyệt dưới những năm trị vì của Dận Đức Đế, (năm sinh cụ thể không thể khảo cứu. Căn cứ vào sử liệu hậu thế dẫn lại, kết hợp thân phận của cha ông, niên đại này hẳn là gần với năm An Duyệt thứ mười một, năm Tiêu Việt tướng quân của Lăng Tiêu quân tử trận tại Bành Thành) [1]. Nguyên quán Lâm An, cha ông là Châu Thứ, cựu tướng Lăng Tiêu quân, mẹ ông xuất thân từ nhà họ Bạch ở Kim Lăng, vốn là con cháu danh môn thế gia.

Châu Đàn thời niên thiếu thông minh lanh lợi xuất chúng, có trí nhớ siêu phàm, thành danh từ sớm, cũng từng có những năm tháng tuổi trẻ ngông cuồng. Cho đến năm Vĩnh Ninh thứ hai đời Đức Đế, cha mẹ Châu Đàn đột ngột qua đời vì tai nạn giặc cướp, gia môn từ đó suy bại. Châu Đàn mười lăm tuổi dẫn đệ đệ Châu Dương vào Biện Đô, nương nhờ thân thích xa họ Nhậm, bắt đầu dốc sức khổ học.

Năm Vĩnh Ninh thứ mười hai, Châu Đàn tròn mười bảy tuổi, nổi danh chấn động trong kỳ thi xuân ở Biện Đô, liên tiếp đỗ Tam Nguyên (người liên trúng Tam Nguyên hiếm hoi trong lịch sử khoa cử vốn chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong khảo cứu Dận Sử chỉ có một mình ông). Sau đó ông bái nhập môn hạ Tể phụ đương triều Cố Chi Ngôn, mở ra con đường chính trị của bản thân.

Thời kỳ Châu Đàn làm quan ở địa phương, chính tích hiển hách, từng nhậm chức Thiêm Phán tại Bình Giang, Thông Phán tại Dương Châu. Khi làm quan ở Bình Giang Phủ (nay là Tô Châu, tỉnh Giang Tô), thanh danh ông nổi trội nhất. Theo Châu Tiêu Bạch Khảo [2] của người Tề ghi chép, khi ông được điều nhiệm, có hàng vạn bá tánh tặng ông Vạn Dân Tán (ô của vạn dân). Bài thơ thứ 69 trong Xuân Đàn Tập, cũng có câu “Cô Tô nay lặng tiếng đức tàn vang” rõ ràng là minh chứng rõ nét.

Cuối năm Vĩnh Ninh thứ mười bốn, sau khi hồi kinh, ông được thụ chức Điển Hình Tự Khanh.

CON ĐƯỜNG QUAN LỘ GẬP GHỀNH

Đầu năm Vĩnh Ninh thứ mười lăm, Dận Đức Đế bất chấp sự phản đối của quần thần, cố ý xây dựng Nhiên Chúc Lâu [3] tại Đông Môn, án Nhiên Chúc từ đó mà dấy lên.

Án Nhiên Chúc thực chất là một cuộc thanh trừng triều đình do Đức Đế nghi kỵ Cố Chi Ngôn mà triển khai. Châu Đàn, với tư cách là môn sinh đắc ý của Cố Chi Ngôn bị hạ ngục chịu hình, mang trọng thương (vết thương này kéo dài nhiều ngày, có lẽ là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết sớm của Châu Đàn sau này).

Án Nhiên Chúc liên lụy đến hơn bốn trăm quan viên lớn nhỏ, số người chết trong ngục không dưới một nửa. Môn sinh thân cận của Cố Chi Ngôn bị thanh trừng gần hết, chỉ có Châu Đàn chấp nhận ‘cắt đuôi cầu sinh’ với Đức Đế, viết nên Nhiên Chúc Lâu Phú [4] nổi tiếng, trở thành vết nhơ lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của ông.

Sau khi ra khỏi ngục giam, Châu Đàn dốc lòng làm cô thần, chuyển nhậm chức Hình Bộ Thị Lang, lập tức bị ám sát, mạng sống chỉ như treo trên sợi tóc. May mắn được Đức Đế ban hôn nên ông mới bình phục. Từ đó, ông từ bỏ phong thái thanh liêm, bắt đầu rộng rãi thêu dệt, dựng lên các vụ án oan, quét sạch phe phái đối lập [5-6] (việc có thể xác định đây là một cuộc thanh trừng hay không gây nhiều tranh cãi lớn, có thuyết nói đối tượng thanh trừng của Châu Đàn vào thời Vĩnh Ninh đa phần là gian thần trong triều. Có năm học giả đã có chuyên luận về vấn đề này, mời xem chú thích cuối bài).

Năm Vĩnh Ninh thứ mười bảy, Tể phụ Phó Khánh Niên thất bại trong cuộc đảng tranh với Chấp chính Cao Tắc, chết trong ngục. Vai trò của Châu Đàn trong việc này không rõ ràng, nhưng tân thê tử của ông là Khúc Ý Liên đã hai lần gõ trống Đăng Văn trên phố Ngự, gây chấn động kinh thành, đóng vai trò quan trọng trong cục diện đấu đá đảng tranh giữa Tể – Chấp. (Khúc thị sau này cùng Châu Đàn hợp soạn Tước Hoa Lệnh, đóng góp to lớn cho biến pháp Tước Hoa. Đồng thời để lại các trứ tác lý luận sử học Thiên Ảnh Trát Ký và sách khảo cứu hình danh Tước Hoa Tái Quan lưu truyền hậu thế. Những tài liệu còn lưu lại cho thấy hậu thế từng có tác phẩm ca ngợi bà có “sự thùy mị của nữ nhân, quyết đoán của pháp gia, cốt cách sử quan, khí tiết văn nhân”, xem chú thích [7])

Để cân bằng triều cục, Đức Đế lấy cớ can dự vào cuộc tranh chấp đảng phái Đông Cung, giáng chức Châu Đàn tới Nhược Châu thuộc Tây Cảnh.

Năm Vĩnh Ninh thứ mười tám, Đức Đế lâm bệnh nặng, Châu Đàn được triệu hồi về Biện Đô phụng chiếu. Sau khi Đức Đế băng hà, cựu Hoàng thái tử Tống Thế Diễm (sau là Lệ Vương) đổi tôn di chiếu của Tuyên Đế. Châu Đàn hộ tống Cảnh Vương Tôn Tống Thế Huyên (sau là Minh Đế) vào Biện Đô dẹp loạn, với tư cách là Thủ thần chấp chỉ (điểm này gây tranh cãi lớn, xem chú thích cuối bài), dốc sức bảo vệ Cảnh Vương Tôn đăng cơ.

BIẾN PHÁP TƯỚC HOA

Năm Vĩnh Ninh thứ mười chín, Dận Minh Đế lên ngôi, đổi niên hiệu thành Trọng Cảnh. Vì có tình thầy trò với Châu Đàn, vua trọng dụng ông làm Chấp Chính Tham Tri, vào Chính Sự Đường [7] thống lĩnh bách quan, được tín nhiệm sâu sắc.

Tháng sáu năm Trọng Cảnh thứ nhất, Châu Đàn chính thức bái Tướng, trở thành Tể phụ trẻ tuổi nhất trong lịch sử Đại Dận [8]. Minh Đế để thoát khỏi tàn dư tệ nạn tích tụ của tiền triều, cũng để đối phó với cuộc khủng hoảng Tây Thiều chưa hoàn toàn giải quyết, Minh Đế sau khi xem qua sách lược biến pháp của Châu Đàn, ngự bút viết: “Cái cách trăm năm, bắt đầu từ hôm nay” [9].

Châu Đàn cho rằng trọng tâm của biến pháp là phải thiết lập lại uy quyền của luật pháp. Dưới danh nghĩa phế bỏ Đường Hoa Lệnh thời tiền triều, ông đã mạnh tay ban hành Tước Hoa Lệnh, viết ra mười hai điều cải cách tân chính, bổ sung hai mươi bốn điều luật của Đại Dận. Ngoài việc chỉnh đốn lại quan chế và quân chế, ông còn tiến hành những cải cách táo bạo trong việc chức trách của Chính Sự Đường, thuế khoá dân gian và các công việc thường vụ tại biên cảnh.

Bình luận

Đăng nhập để viết

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nghĩ!